Pearl, Mississippi – Wikipedia tiếng Việt

City of Pearl
—  Thành phố  —
Built in 1940 originally as Pearl High School and used as such until 1989, it became Pearl City Hall in 1991.

Built in 1940 originally as Pearl High School and used as such until 1989, it became Pearl City Hall in 1991.

Tên hiệu: The Pearl of the South
Location in Rankin County, Mississippi
Location in Rankin County, Mississippi
Vị trí của Mississippi in the Hoa Kỳ
Vị trí của Mississippi in the Hoa Kỳ
City of Pearl trên bản đồ Thế giới

City of Pearl

City of Pearl

Tọa độ: 32°16′19″B 90°06′19″T / 32,27194°B 90,10528°T / 32.27194; -90.10528Tọa độ: 32°16′19″B 90°06′19″T / 32,27194°B 90,10528°T / 32.27194; -90.10528
Quốc gia Hoa Kỳ
State Mississippi
Quận Rankin
Thành lập 1865
Incorporation 1973
Chính quyền
 • Kiểu Strong Mayor-Council
 • Thị trưởng Brad Rogers (R)
 • Board of Aldermen Terry Ishee (R) – Dist. 1
Michael Sartor (R) – Dist. 2
Jerry Grant (R) – Dist. 3
Tommie Hill (R) – Dist. 4
Todd Jenkins (D) – Dist. 5
Gavin Gill (R) – Dist. 6
John McHenry (R) – At Large
Diện tích
 • Tổng cộng 22,0 mi2 (57 km2)
 • Đất liền 21,8 mi2 (56,5 km2)
 • Mặt nước 0,2 mi2 (0,5 km2)
Độ cao 276 ft (84,1 m)
Dân số (2006 estimate)
 • Tổng cộng 23.986
 • Mật độ 1.088/mi2 (420,1/km2)
Múi giờ CST (UTC-6)
 • Mùa hè (DST) CDT (UTC-6)
Zip Code(s); physical locations 39208
Zip Code(s); U.S. P.O. boxes 39288
Mã điện thoại 601, 769
Trang web http://www.cityofpearl.com
For additional city data see: City-Data

Pearl, Mississippi là một thành phố thuộc quận Rankin trong tiểu bang Mississippi, Hoa Kỳ. Thành phố có diện tích km2, dân số theo điều tra năm 2000 của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ là người.

San& – Wikipedia tiếng Việt

Rất tiếc, Wikipedia tiếng Việt không có bài viết nào với tên này.

Ebino, Miyazaki – Wikipedia tiếng Việt

Ebino
えびの市
—  Thành phố  —
Flag of Ebino Miyazaki.JPG
Hiệu kỳ
Vị trí của Ebino ở Miyazaki
Vị trí của Ebino ở Miyazaki
Ebino trên bản đồ Nhật Bản

Ebino

Ebino

 

Tọa độ: 32°2′B 130°49′Đ / 32,033°B 130,817°Đ / 32.033; 130.817Tọa độ: 32°2′B 130°49′Đ / 32,033°B 130,817°Đ / 32.033; 130.817
Quốc gia Nhật Bản
Vùng Kyūshū
Tỉnh Miyazaki
Chính quyền
 • Thị trưởng Michihiro Miyazaki
Diện tích
 • Tổng cộng 283,00 km2 (10,900 mi2)
Dân số (ngày 1 tháng 10 năm 2005)
 • Tổng cộng 23,079
 • Mật độ 81,55/km2 (21,120/mi2)
Múi giờ Giờ chuẩn Nhật Bản (UTC+9)
– Cây Kirishima Red Pine
– Hoa Calanthe discolor (海老根 Ebine)
Điện thoại 0984-35-1111
Địa chỉ 1292 Ōaza Kurishita, Ebino-shi, Miyazaki-ken
889-4292
Trang web City of Ebino

Ebino (えびの市 Ebino-shi?) là một thành phố thuộc tỉnh Miyazaki, Nhật Bản.


Triệt quyền đạo – Wikipedia tiếng Việt

Hình biểu tượng võ phái Triệt Quyền Đạo

Tiệt quyền đạo (截拳道) (hay còn được biết đến với tên Triệt quyền đạo ở Việt Nam) là một môn võ thuật chú trọng đến hiệu quả và thực tế. Tên tiếng Anh là Jeet Kune Do.

Tổ sư sáng lập là Lý Tiểu Long với sự kết hợp các môn võ Trung Hoa (như Vịnh Xuân Quyền) và các môn thể thao phương Tây (như Quyền Anh, thể dục thể hình,…) và quan trọng hơn bộ tấn và cách di chuyển của Triệt quyền đạo được lấy từ môn đấu kiếm của phương Tây [cần dẫn nguồn].

Tên của môn võ này chữ Hán là 截拳道. Nếu dịch theo đúng nghĩa Hán Việt thì phải đọc là Tiệt quyền đạo. “Tiệt” có nghĩa là “cắt đứt” hay “một đoạn”. Ý nghĩa này theo Lý Tiểu Long là vì môn võ khi đánh cắt đứt đường quyền của đối thủ, trước khi đối thủ có thì giờ phản ứng. Tuy nhiên, nhiều người dịch lầm là Triệt quyền đạo, với ý tưởng là “triệt tiêu” địch thủ. Tên này nghe hay hơn nên trở nên phổ thông ở Việt Nam, mặc dù không đúng ý nghĩa của người sáng lập là Lý Tiểu Long.

  • Hãy vứt đi mọi thứ bạn có, bỏ đi những khái niệm đã ăn sâu vào đầu bạn để lấy tự do. Cái tự do đó sẽ giúp bạn hiểu biết tất cả những gì bạn đã bỏ đi, và rồi tiến tới hiểu thêm cả những gì bạn chưa biết.
  • Triệt Quyền Đạo không có nội quy hay nguyên tắc gì ràng buộc bạn cả, nó chỉ cho bạn hướng để phát triển một cách không hạn chế (có thể cắn, bấu bằng móng tay, cào, húc đầu, đánh bằng cùi chỏ (khủy tay), đá bằng đầu gối… khi cần trong giao chiến). Bạn học Tiệt Quyền Đạo để sử dụng và cũng không cần nhớ là mình học môn gì.
  • Hình thức phi hình thức là sự yêu cầu trau dồi các kỹ năng rồi tiến tới không cần đến chúng, chỉ còn lại sự giản dị đến không ngờ (loại bỏ những chiêu thức rườm rà tốn sức, sử dụng những chiêu thức thực chiến hiệu quả, hạ gục đối phương càng nhanh càng tốt).
  • Hãy đấm khi cần đấm hãy đá khi cần đá (cái này nói thì đơn giản nhưng thực hiện thì không hề dễ chút nào).
  • Võ thuật như là nước (đây là triết lý do Lý Tiểu Long sáng tạo ra), nước thì muôn hình vạn trạng, khi bạn rót nước vào chiếc cốc thì nó là cốc, khi bạn rót nước vào chiếc chén thì nó là chiếc chén, nó không bị ràng buộc vào bất kỳ điều gì, hãy để cho mọi thứ tự nhiên nhất.
  • Triệt Quyền Đạo chủ yếu dùng vô chiêu thắng hữu chiêu, đánh vào điểm sơ hở của đối phương.

Luyện tập và khởi động[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phải có chương trình luyện tập hiệu quả cho cả tuần.
  • Luyện tập không nhất thiết cứ phải có giờ giấc, bạn có thể tranh thủ bất cứ lúc nào để luyện tập, như đi bộ đến chỗ nào, tranh thủ trèo cầu thang thay cho đi thang máy…
  • Khởi động phải bám sát buổi tập, như buổi tập này bạn dự định tập chân thì nên khởi động kỹ từ hông đến gót chân.
  • Bạn đang hướng tới mục đích hiệu quả chứ không phải thể hình vì vậy phải tránh việc luyện những cơ bắp gây cản trở lực đánh hay sức bật.

Trong Triệt quyền đạo không có bất cứ 1 tư thế nào ràng buộc bạn như bất cứ môn võ nào mà bạn từng học, bạn có thể muốn chuẩn bị bất cứ tư thế nào mà bạn cảm thấy là tốt nhất, thoải mái nhất và bạn thấy hài lòng nhất vì khi bạn bị đánh lén thì chỉ nên thuận theo phản xạ của cơ thể. Khi bạn luyện võ thì phản xạ trong người của bạn sẽ được hình thành ngày càng nhanh và khi đó phản xạ của bạn chính là phòng thủ và tấn công khi bị người khác đánh bất ngờ!

Động tác chân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyên tắc chiến đấu chính là nghệ thuật di chuyển để tìm kiếm mục tiêu hoặc tránh khỏi tầm đánh của đối phương.
  • Kỹ thuật chân là sự giữ thăng bằng trong hành động, nó giúp tung ra những đòn có uy lực và tránh sự phản kích của đối thủ.
  • Kỹ thuật chân chia các phần:
    • Động tác rê chân: lướt đôi bàn chân trên mặt đất sẽ giúp phát triển tốc độ và sự uyển chuyển.
    • Động tác tiến nhanh ra phía trước: giúp di chuyển thân mình nhanh nhẹn.
    • Triệt thoái nhanh là kỹ thuật ngược lại với tiến nhanh giúp cho cơ thể tránh khỏi tầm đánh của đối phương một cách nhanh nhất.
    • Bước ngang là kỹ thuật di chuyển thân mình sang phải hay trái mà không bị mất thăng bằng. Đây là một thao thác phòng thủ cốt tủy, an toàn và tạo được cơ hội để phản công bất ngờ.

Tính phối hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Là khi âm dương kết hợp, nghĩa là nó đã tồn tại. Khi phòng thủ nhất định phải kèm với tấn công. Đó là điều cốt lõi trong Triệt quyền đạo, vì khi đối phương tấn công cũng là lúc để lộ rõ sơ hở, phải biết trong nháy mắt đoán được ý đồ của đối phương để kịp thời ngăn chặn đòn đánh và tức tốc phản kích trong một thời gian ngắn. Tốc độ phải như tia sáng của mặt trăng, ta không thể nhìn nhưng lại cảm nhận được nó. Ánh mắt luôn hướng về đối thủ. Đối thủ lớn nhất của mình không phải ở trước mắt mà là ở đằng sau, khi ta tiêu diệt được ảo ảnh thì đối thủ cũng biến mất.

Tính chuẩn xác[sửa | sửa mã nguồn]

Là sự đạt được đúng đắn động tác nhằm diễn tả mức thích đáng của động tác phóng ra mà sức lực thực hiện ít nhất.
Nếu sức lực thực hiện ít nhất mà không có tốc độ nhanh nhất có thể thì các bạn sẽ không nắm chắc được thành công khi ra đòn. Yêu cầu phải có tốc độ nhanh khi ra đòn. Không những nhanh mà lực phát ra phải dồn hết về cánh tay. Cổ tay phải dẻo và linh hoạt mới có thể tấn công tốt được.

Tính uy lực[sửa | sửa mã nguồn]

  • Uy lực không hoàn toàn chỉ là sức mạnh mà nó là sự kết hợp giữa sức mạnh – thời điểm – tốc độ. Nếu bạn tăng tốc cho một đòn đánh thì đòn đánh đó tăng uy lực lên mặc dù độ co kéo của cơ bắp vẫn không đổi.
  • Để kết hợp tốt sức tung ra với lợi ích hành động, các xung lực thần kinh gồm một số lượng sợi vừa đủ được chuyển đi để tác động thúc đẩy hoạt động cơ bắp đúng lúc. Đồng thời các xung lực cũng tác động vào các cơ bắp nghịch ứng làm giảm nhẹ sự đề kháng. Tất cả các hoạt động này sẽ tạo nên hiệu quả và đưa tới sự sử dụng uy lực tốt nhất.

Tính bền bỉ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sự bền bỉ được tạo ra khi những người luyện tập cố vượt quá chính bản thân giới hạn của mình một cách thường xuyên.
  • Các bài tập tính bền bỉ là những bài tập khó khăn và phải được giám sát cũng như gia tăng từ từ.
  • Mỗi đòn trong triệt quyền đạo được tập rất nhiều lần và trong thời gian dài.

Tính thăng bằng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tính thăng bằng là trạng thái ổn định của cơ thể dù đang ở tình trạng hành động hay đứng yên.
  • Thăng bằng chỉ có khi cơ thể ở trong thế thẳng hàng thích hợp. Bàn chân, ống chân, thân hình và đầu giữ phần quan trọng nhất để tạo lập và duy trì tư thế thăng bằng. Các bàn chân cần giữ được tương quan thích hợp với nhau và thích hợp với thân hình mới tạo cho cơ thể vào thế thẳng hàng chuẩn xác.
  • Luyện phối hợp đấm đá, trong lúc tiến, lui, đổi hướng với tốc độ, uy lực tối đa, đồng thời luyện giữ vững tư thế thăng bằng hoặc lấy lại tư thế thăng bằng một cách mau chóng nhất.

Tính cơ thể tự cảm nhận[sửa | sửa mã nguồn]

  • Là việc cơ thể tự cảm nhận mình và đối thủ, xem xét tư thế của mình có phù hợp không và của đối thủ đang có biểu hiện gì.
  • Tính cơ thể tự cảm nhận sẽ làm nảy ra tác động hỗ tương thích hòa hợp giữa thân xác và thân hình trong một nhịp điệu không thể tách rời.

Tính thị giác dự báo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Học nhận thức cực mau bằng mắt là bước mở đầu căn bản. Để luyện tập cần thực hành hàng ngày bài tập nhìn lẹ, ngắn và tập trung.
  • Làm động tác giả và đánh nhử là phương pháp khiến đối thủ phải do dự trước khi hành động.

Tính tốc độ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tốc độ là một trạng thái phức tạp, nó bao hàm cả thời gian nhận thức lẫn thời gian phản ứng. Tình thế phản ứng càng phức tạp thì tốc độ lại càng chậm.
  • Tốc độ được chia thành năm loại:
    • Tốc độ chi giác: Nhanh mắt thấy ngay các kẽ hở và đánh trực diện vào điểm yếu (kẻ hở) cho đối thủ nản chí, bối rối và trở lên chậm chạp.
    • Tốc độ tâm lý: Phán đoán nhanh để có ngay cử động hợp thời nhằm vô hiệu hóa đối thủ và phản công.
    • Tốc độ khởi đầu: Khởi đầu nhẹ nhàng từ tư thế đúng và phong cách tinh thần đúng.
    • Tốc độ thể hiện: Động tác nhanh để đưa cử động tới chính xác và hiệu quả. Bao gồm cả tốc độ co cơ thực sự.
    • Tốc độ biến đổi: Khả năng chuyển hướng bất ngờ, bao gồm cả sự làm chủ tính thăng bằng và thói quen chậm chạp.
  • Để gia tăng tốc độ cần lưu ý đến năm đặc tính:
    • Tính lưu động.
    • Tính bật nảy, đàn hồi và mềm dẻo.
    • Tính đề kháng đối với sự mệt mỏi.
    • Tính cảnh giác về tâm lý và thể chất.
    • Tính tưởng tượng và dự báo.
  • Các yếu tố tạo thành tốc độ tối đa bao gồm:
    • Sự khởi động giúp tăng tính đàn hồi, mềm dẻo và điều chỉnh toàn thân đạt một nhịp độ sinh học cao hơn (nhịp tim, huyết áp, hơi thở).
    • Sự co cơ lúc đầu và sự co cơ từng phần.
    • Tư thế đứng thích hợp.
    • Sự tập trung chú ý thích hợp.
    • Giảm nhẹ sự tiếp nhận kích thích để đạt tới thói quen tri giác mau lẹ, đồng thời giảm bớt những động tác bị thúc đẩy để tiến tới thói quen phản ứng nhanh.
  • Một số nguyên tắc chi phối tính tốc độ:
    • Bán kính ngắn tạo động tác nhanh.
    • Vòng cung dài hơn cho xung lực toàn vẹn.
    • Sức nặng ở tâm điểm cho tốc độ hồi chuyển và gia tăng tốc độ bởi các động tác trùm phủ đồng qui và nối tiếp.

Tính đúng lúc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tốc độ và tính đúng lúc bổ sung hiệu quả cho nhau vì đòn đánh mạnh mà không trúng đích thì sẽ là vô hiệu.
  • Thời điểm phản ứng là khoảng thời gian giữa tác nhân kích thích và sự đáp ứng.
  • Thời gian chuyển động là thời gian cần để hoàn tất một động tác.

Điệu, nhịp và tiết tấu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Điệu là sự diễn biến giữa các đấu thủ cố theo đuổi mọi động tác của nhau tạo thành những cặp đồng điệu. Nếu một đối thủ phá vỡ điệu này sẽ tạo ra sự chênh lệch nhất thời gây tổn thương.
  • Nhịp là sự kiểm soát được tốc độ của đối thủ nhằm tạo tốc độ của mình phù hợp với đối thủ, lúc đó khả năng chi phối trận đấu nằm trong tay người điều khiển.
  • Tiết tấu là quy luật của chuyển động, khi một đối thủ bị nắm bắt tiết tấu thì khó có thể kháng cự lại.

Hình thức tốt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Là việc làm chủ những tư thế những nền tảng thích hợp và ứng dụng liên tục chúng.
  • Hình thức tốt là cách hữu hiệu nhất để hoàn tất mục đích của một lần thể hiện động tác mà không cần di động nhiều và hoang phí năng lực.
  • Theo Lý Tiểu Long thì hình thức tốt có thể đánh bại mọi đòn tấn công và có thể tấn công đối phương một cách hợp lý nhất.
  • Làm chủ hình thức của bản thân thì có thể làm chủ được tình huống, điều khiển được cuộc đấu theo ý thức của bản thân.
  • Lạc Việt, biên soạn theo Tao of the Jeet Kune Do, Lý Tiểu Long con đường triệt quyền đạo, Nhà xuất bản Thể dục Thể thao,H. 1999.
  • Balicki, Gold, Ron, Steve (2001), Jeet Kune Do: The Principles of a Complete Fighter, HNL Publishing, ISBN 0953176630 
  • Basaran, Fehm (1995), Jeet Kune Do Fighting, Taipei,Taiwan 
  • Bishop, James (2004), Bruce Lee: Dynamic Becoming, Dallas: Promethean Press, ISBN 0-9734054-0-6 
  • Cheng, David (2004), Jeet Kune Do Basics, Tuttle Publishing, ISBN 0-8048-3542-X 
  • Davis, Lamar (2001), Jun Fan/Jeet Kune Do: Scientific Streetfighting, HNL Publishing, ISBN 978-0953176618 
  • Hochheim, W. Hoch (tháng 1 năm 1995), “The Maze of Jeet Kune Do”, Black Belt Magazine (Rainbow Publications, Inc.), vol. 33 (issue 1) 
  • Inosanto, Dan (1980), Jeet Kune Do: The Art & Philosophy of Bruce Lee, Know Now Pub Co, ISBN 0938676008 
  • Kent, Tackett, Chris, Tim (1989), Jun Fan Jeet Kune Do: The Textbook, Action Pursuit Group, ISBN 0865681317 
  • Lee, Bruce (tháng 9 năm 1971), “Liberate Yourself from Classical Karate”, Black Belt Magazine (Rainbow Publications, Inc.), vol. 9 (issue 9) 
  • Lee, Bruce (1975), Tao of Jeet Kune Do, Ohara Publications, ISBN 9780897500487 
  • Lee, Bruce (1978), Bruce Lee’s Fighting Method, Ohara Publications, Inc., ISBN 0-89750-062-8 
  • Little, John (1996), The Warrior Within: The Philosophies of Bruce Lee to Better Understand the World Around You and Achieve a Rewarding Life, McGraw-Hill, ISBN 0809231948 
  • Little, John (1997), Jeet Kune Do: Bruce Lee’s Commentaries on the Martial Way, Tuttle Publishing, ISBN 0804831327 
  • Little, John (2001), Bruce Lee: Artist of Life, Tuttle Publishing, ISBN 0804832633 
  • Little, John (2002), Striking Thoughts: Bruce Lee’s Wisdom for Daily Living, Tuttle Publishing, ISBN 0804834717 
  • Seaman, Kevin (1999), Jun Fan Gung Fu Seeking The Path Of Jeet Kune Do, ISBN 0-9531766-2-2 
  • Thomas, Bruce (1994), Bruce Lee: Fighting Spirit, Berkeley, California: Frog, Ltd., ISBN 1883319250 

Oco – Wikipedia tiếng Việt

Oco là một đô thị trong tỉnh và cộng đồng tự trị Navarre, Tây Ban Nha. Đô thị này có diện tích là ki-lô-mét vuông, dân số năm 2007 là người với mật độ người/km²


Tochigi (thành phố) – Wikipedia tiếng Việt

Tochigi
栃木市
—  Thành phố  —
Tochigi cityhall.jpg
Flag of Tochigi Tochigi.svg
Hiệu kỳ
Ấn chương chính thức của Tochigi
Ấn chương
Vị trí của Tochigi ở Tochigi
Vị trí của Tochigi ở Tochigi
Tochigi trên bản đồ Nhật Bản

Tochigi

Tochigi

 

Tọa độ: 36°23′B 139°44′Đ / 36,383°B 139,733°Đ / 36.383; 139.733Tọa độ: 36°23′B 139°44′Đ / 36,383°B 139,733°Đ / 36.383; 139.733
Quốc gia Nhật Bản
Vùng Kantō
Tỉnh Tochigi
Diện tích
 • Tổng cộng 252,83 km2 (9,762 mi2)
Dân số (1 tháng 11 năm 2010)
 • Tổng cộng 140,171
 • Mật độ 554/km2 (1,430/mi2)
Múi giờ Giờ chuẩn Nhật Bản (UTC+9)
Điện thoại 0282-21-2224
Địa chỉ
〒328-8686
Trang web tochigi.tochigi.jp/ Thành phố Tochigi

Tochigi (栃木市 Tochigi-shi?) là một thành phố thuộc tỉnh Tochigi, Nhật Bản.

  • Phương tiện liên quan tới Tochigi (thành phố) tại Wikimedia Commons


Richard C. Holbrooke – Wikipedia tiếng Việt

Richard Charles Albert Holbrooke (24 tháng 4 năm 1941-13 tháng 12 năm 2010) là một nhà ngoại giao, nhà kinh doanh ngân hàng, biên tập viên tạp chí, tác gia, giáo sư, quan chức Peace Corps Hoa Kỳ. Ông là người duy nhất nắm giữ chức vụ Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ qua cho hai khu vực khác nhau trên thế giới là châu Á từ năm 1977-1981 và châu Âu từ năm 1994-1996. Sau đó ông là đại diện đặc biệt cho Afghanistan và Pakistan của chính quyền Barack Obama. Ông là quan chức ngoại giao của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ từ thời kì chiến tranh Việt Nam cho đến các cuộc chiến cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 của Hoa Kỳ tai Trung Đông, qua các thời tổng thống từ John F. Kennedy đến Barack Obama.

Richard C. Holbrooke từng đảm nhận vị trí Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc và Đức, được bảy lần đề cử giải Nobel hòa bình. Ngoài ra, ông cũng từng làm phóng viên và nhà đầu tư ngân hàng.

Ông Holbrooke được đánh giá nhân vật có vai trò quan trọng trong các nỗ lực của Tổng thống Obama nhằm xoay chuyển cuộc chiến kéo dài suốt chín năm tại Afghanistan. Thành tựu nổi bật nhất của Holbrooke là góp phần kết thúc cuộc chiến thảm khốc ở Bosnia bằng hòa ước Dayton năm 1995.


Andrej Alehavich Sannikau – Wikipedia tiếng Việt

Andrej Alehavich Sannikau
Андрэй Алегавіч Саннікаў
Андрей Олегович Санников
Sannikov1.jpg

Andrej Alehavich Sannikau

Sinh 8 tháng 3, 1954 (64 tuổi)
Minsk, Belarus
Quốc tịch Belarus
Tên khác Andrey Olegovich Sannikov
Học vấn Đại học quốc gia Minsk
Nghề nghiệp Chính trị gia, Nhà ngoại giao

Andrej Alehavich Sannikau; (tiếng Belarus: Андрэй Алегавіч Саннікаў, tiếng Nga: Андрей Олегович Санников, Andrej Sannikov, sinh ngày 8.3.1954 tại Minsk) là chính trị gia người Belarus và là ứng cử viên trong cuộc bầu cử tổng thống Belarus năm 2010.

Andrej Sannikau sinh ngày 8 tháng 3 năm 1954. Cha ông là nhà nghiên cứu nghệ thuật Belarus nổi tiếng, còn mẹ ông là giáo viên dạy tiếng Nga. Ông nội ông là Kanstantsin Sannikau, một diễn viên nổi tiếng và là một trong những người sáng lập “Nhà hát quốc gia Yanka Kupala”.

Năm 1977 Sannikau tốt nghiệp trường Đại học ngoại ngữ quốc gia Minsk. Sau đó ông làm việc cho một công ty dầu của Liên Xô ở Pakistan và Ai Cập trong việc xây dựng một nhà máy aluminum.

Sự nghiệp ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1982 tới 1987 Sannikau phục vụ ở Nha Thư ký của Liên Hiệp Quốc tại New York. Năm 1989 ông tốt nghiệp “Học viện Ngoại giao” của Bộ Ngoại giao Liên Xô tại Moskva.

Từ năm 1993 tới 1995 ông làm cố vấn cho phái đoàn ngoại giao Belarus ở Thụy Sĩ.

Từ năm 1992 tới 1995 Sannikau đứng đầu phái đoàn Belarus trong thương thuyết về vũ khí thông thường và vũ khí hạt nhân với quyền ký kết nhân danh Belarus[1]. Năm 1995-1996 ông làm thứ trưởng Bộ Ngoại giao Belarus. Andrej Sannikau có cấp bậc Đại sứ đặc mệnh toàn quyền.

Chính trị gia đối lập[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 1996, ngay trước cuộc Trưng cầu dân ý 1996 gây tranh cãi vì những tiêu chuẩn hạn chế dân chủ nghiêm ngặt cùng việc phân chia quyền ở Belarus, Sannikau đã từ chức để phản đối.

Tháng 11 năm 1997 ông là một trong những người khởi xướng sáng kiến dân sự Hiến chương 97 và là người điều phối quốc tế của Hiến chương này.

Năm 1998 ông lập ra Hội đồng phối hợp các lực lượng dân chủ của Belarus cùng với Hienadz Karpienka. Là nhà ngoại giao chuyên nghiệp, ông ủng hộ các lợi ích của Belarus dân chủ trên thế giới và tích cực biện hộ cho nền độc lập và nhân quyền. Trong các năm tiếp theo Andrei Sannikau đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối ở Belarus, trong đó có các hoạt động phản đối việc giả mạo các kết quả bầu cử trong các năm 2001, 2004, 2006 và 2008.

Ông đã bị chính quyền Belarus bắt giữ nhiều lần, bị đánh đập và bị ngược đãi vì các hoạt động chính trị của mình.

Năm 2008 Andrej Sannikau cùng với Viktar Ivashkevich, Mikhail Marynich và những chính trị gia khác đã khởi xướng đợt vận động dân sự Belarus của châu Âu, tuyên bố mục tiêu là đưa Belarus gia nhập Liên minh châu Âu.

Tháng 3 năm 2010 Andrej Sannikau tuyên bố ý định sẽ ra tranh cử trong cuộc bầu cử tổng thống Belarus năm 2011. Ông được coi là một trong các ứng cử viên đối lập chính, cùng với Uladzimir Niakliayeu và Yaraslau Ramanchuk.

Ngày 18 tháng 11 năm 2010, ông đã chính thức đăng ký làm ứng cử viên tổng thống trong cuộc bầu cử tổng thống Belarus năm 2011, tranh cử chống lại tổng thống đương nhiệm Aliaksandr Ryhoravič Lukašenka.

Tháng 5 năm 2011, Sannikau bị bắt và bị kết án 5 năm tù vì tội “tổ chức gây bất ổn xã hội”[2]

Andrej Sannikau kết hôn với nhà báo nổi tiếng Iryna Khalip. Họ có hai con trai.

Tachoires – Wikipedia tiếng Việt

Tọa độ: 43°28′23″B 0°39′56″Đ / 43,4730555556°B 0,665555555556°Đ / 43.4730555556; 0.665555555556

Tachoires

Tachoires trên bản đồ Pháp

Tachoires

Tachoires

Hành chính
Quốc gia Quốc kỳ Pháp Pháp
Vùng Occitanie
Tỉnh Gers
Quận Auch
Tổng Saramon
Xã (thị) trưởng Max Balas
(2014-2020)
Thống kê
Độ cao 197–304 m (646–997 ft)
(bình quân 210 m/690 ft)
Diện tích đất1 9,61 km2 (3,71 sq mi)
Nhân khẩu2 101  (1999)
 – Mật độ 11 /km2 (28 /sq mi)
INSEE/Mã bưu chính 32438/ 32260
1 Dữ liệu địa chính Pháp loại trừ các hồ và ao lớn hơn 1 km² (0.386 dặm vuông hoặc 247 acre) cũng như các cửa sông.
2Dân số không tính hai lần: cư dân của nhiều xã (ví dụ, các sinh viên và quân nhân) chỉ tính một lần.

Tachoires là một xã thuộc tỉnh Gers trong vùng Occitanie miền nam nước Pháp.

  • Xã của tỉnh Gers


Bristol, Tennessee – Wikipedia tiếng Việt

Bristol, Tennessee là một thành phố thuộc quận, tiểu bang Tennessee, Hoa Kỳ. Thành phố có diện tích km², dân số thời điểm năm 2000 theo điều tra của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ là người2.