Xăng, dầu gây áp lực lên giá hàng hoá cuối năm

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa có yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng trong việc điều hành giá các mặt hàng những tháng cuối năm 2018 và định hướng điều hành giá cho cả năm 2019.

Trong 3 tháng cuối năm 2018, qua phân tích, đánh giá bối cảnh trong nước và thế giới, mặt bằng giá thị trường chịu tác động đan xen của các yếu tố làm tăng áp lực và các yếu tố tạo thuận lợi cho công tác điều hành giá.

Các yếu tố thuận lợi giúp kiềm chế tốc độ tăng chỉ CPI như cung cầu hàng hóa, nhất là ngành sản xuất nông nghiệp được cân đối, nguồn cung dồi dào, ổn định; giá thuốc chữa bệnh, vật tư y tế tiếp tục có triển vọng giảm…

Những yếu tố tạo áp lực tăng giá chủ yếu đến từ yếu tố thị trường như xu hướng tăng giá hàng hóa thế giới, trong đó có biến động tăng của giá một số nhiên liệu như xăng dầu, LPG do diễn biến phức tạp của tình hình địa – chính trị thế giới, thiên tai, bão lũ còn nhiều diễn biến phức tạp khó lường.

Điều này đặt ra cho công tác quản lý, điều hành giá cần tiếp tục cố gắng nỗ lực, đặc biệt không để xảy ra lạm phát kỳ vọng không chỉ của năm 2018 và cả trong năm 2019.

Căn cứ các kịch bản điều hành giá đã được thống nhất, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện tốt các biện pháp điều hành giá đã đề ra từ đầu năm.

Trong đó, các Bộ, ngành, địa phương chủ động theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường đối với các mặt hàng có xu hướng tăng cao trong thời gian gần đây như xăng dầu, LPG, thịt lợn, cần chủ động rà soát, cân đối cung cầu, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường đặc biệt là trong các thời điểm lễ, Tết; tiếp tục rà soát để đẩy nhanh thực hiện giảm giá các mặt hàng có khả năng giảm giá.

Về chính sách tiền tệ, Phó Thủ tướng yêu cầu NHNN Việt Nam tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt theo tín hiệu thị trường, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát; tiếp tục thực hiện các biện pháp ổn định tỷ giá và mặt bằng lãi suất; phấn đấu kiểm soát lạm phát cơ bản ở mức khoảng 1,5% – 1,6%…

Đối với việc điều hành giá một số mặt hàng, Phó Thủ tướng yêu cầu phải tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc điều hành giá một số mặt hàng.

Đơn cử như đối với mặt hàng nông sản, Bộ NNPT&NT tiếp tục theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường để có biện pháp cân đối cung cầu nhằm ổn định thị trường đối với các mặt hàng lương thực, thực phẩm…

Bộ cũng cần chủ động phối hợp với Bộ Công Thương chuẩn bị nguồn hàng đầy đủ để kịp thời ứng phó với các diễn biến bất thường trong mùa mưa bão cũng như chuẩn bị cho các dịp lễ, Tết dương lịch, Tết Nguyên đán.

Về mặt hàng xăng dầu, trước diễn biến của giá xăng dầu thế giới có xu hướng tăng cao, trên cơ sở kết quả đạt được trong công tác điều hành giá xăng dầu trong thời gian qua, Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, điều hành giá xăng dầu trong nước theo đúng quy định tại Nghị định số 83 ngày 3/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá với liều lượng thích hợp.

Trường hợp có biến động lớn về giá xăng dầu cần phải tính đến việc tạm không trích quỹ trong một thời gian để góp phần bình ổn giá xăng dầu trong nước. Bên cạnh đó, Bộ cần tiếp tục nghiên cứu các giải pháp để thúc đẩy tăng tỷ trọng sử dụng nhiên liệu sinh học trong tổng lượng tiêu thụ xăng dầu nhằm giảm mặt bằng giá xăng dầu cũng như góp phần bảo vệ môi trường.

Đối với mặt hàng điện, Bộ Công Thương phối hợp với các đơn vị liên quan để rà soát các chi phí giá thành của ngành điện trong các năm 2017, 2018 và dự kiến 2019 để đề xuất kịch bản điều hành giá phù hợp cho năm 2019.

Trường hợp cần thiết phải tăng giá điện cần cân nhắc điều chỉnh ở mức phù hợp, gắn với đó là việc đẩy mạnh công khai, minh bạch thông tin về giá. Bộ Công Thương chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam tăng cường các giải pháp nhằm giảm chi phí giá thành, tổn thất điện năng, tăng sử dụng các nguồn phát điện có chi phí thấp như thủy điện…

Hay đối với Bộ TTTT, Phó Thủ tướng đề nghị tiếp tục triển khai và quản lý giá cước dịch vụ viễn thông theo quy định tại Nghị định số 25 ngày 6/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn Thông.

Bộ cũng cần phối hợp với Bộ Tài chính để quản lý giá cước dịch vụ viễn thông phù hợp với các quy định tại Luật Viễn thông, Luật Giá và các văn bản hướng dẫn.

“Vua giày chạy bộ thế giới” muốn bỏ Trung Quốc về Việt Nam

Brooks Running được mệnh danh là “vua giày chạy bộ chuyên nghiệp” của thế giới. Ông lớn trong ngành hàng trang phục thể thao này thuộc Tập đoàn Berkshire Hathaway của tỷ phú Warren Buffett – người giàu xếp thứ ba thế giới.

Hiện Brooks Running đã được tách ra thành một công ty độc lập do Giám đốc điều hành Jim Weber điều hành và báo cáo trực tiếp với tỷ phú Warren Buffett.

Mới đây, Jim Weber cho biết hãng đang cân nhắc chuyển một số hoạt động sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam do ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

Trả lời trên CNBC, Giám đốc điều hành Brooks Running cho rằng hãng đang sắp sửa bị chịu thêm một mức thuế 25% vào các sản phẩm từ đòn đánh của Mỹ.

Hiện “ông vua giày chạy bộ” này đã bị đánh thuế 20%. Như vậy, tổng mức thuế Brooks Running có thể gánh là 45% từ căng thẳng giữa Washington và Bắc Kinh.

Ông Jim Weber khẳng định nếu Brooks Running chuyển hoạt động sản xuất sang Việt Nam hay một nơi nào khác thì quyết định này sẽ là vĩnh viễn và không có sự thay đổi nữa.

Năm ngoái, sau khi thành công tại thị trường Châu Âu, Nhật Bản và Canada, Brooks đã mở rộng sang Trung Quốc và Brazil.

Không chỉ riêng Brooks Running, 5 tháng trước, CEO Adidas – Kasper Rorsted cũng cho biết thời gian tới, hoạt động sản xuất cung cấp giày dép của hãng dự kiến tiếp tục sẽ được chuyển dịch từ Trung Quốc sang Việt Nam. Riêng năm 2017, số lượng giày dép từ các nhà máy Việt Nam sản xuất cho Adidas đã cao hơn gấp 2 lần so với Trung Quốc.

Theo P.Đ

Lao động

Cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu cho DN Việt Nam

Đây là nhận định được đưa ra tại hội nghị phổ biến Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) – Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam do Sở Công thương TP.HCM tổ chức sáng 25/10.

Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương mặc dù không có Hòa Kỳ tham gia nhưng vẫn chiếm quy mô thị trường khoảng 13,5% GDP toàn cầu với gần 500 triệu dân. Hiệp định CPTPP sẽ tạo thêm động lực thúc đẩy mở cửa thị trường, phát triển đầu tư cho Việt Nam với nhiều nước trong khu vực và thế giới.  Khi hiệp định này có hiệu lực thì sẽ cắt giảm gần 100% dòng thuế, trong đó 66% mặt hàng thuế sẽ về 0%; 86,5% mặt hàng thuế sẽ về 0% sau 3 năm.

Hiệp định CPTPP: Cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu cho DN Việt Nam - Ảnh 1.

Bộ Công thương phổ biến nôi dung Hiêp đinh CPTPP cho DN TP.HCM

Tại hội nghị, các doanh nghiệp được phổ biến những nội dung tổng thể về  CPTPP, các quy tắc xuất xứ hàng hóa theo quy định của hiệp định này; những  điểm mới, khác biệt của quy định về xuất xứ hàng hóa theo CPTPP so với các hiệp định thương mại tự do khác mà Việt Nam tham gia. Các doanh nghiệp cũng được hướng dẫn cụ thể về những quy định về quy tắc chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) và truy xuất nguồn gốc hàng hóa đối với các mặt hàng dệt may, giày da, thủy sản, nông nghiệp…. những điều mà nhiều doanh nghiệp rất rất quan tâm, vì đây là cơ sở để được hưởng thuế ưu đãi.

Theo bà Phạm Quỳnh Mai, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công thương, CPTPP là hiệp định tiêu chuẩn cao, có nhiều cam kết phải thực hiện nên doanh nghiệp phải tìm hiểu sâu hơn nữa về các cam kết trong hiệp định.

“Các hiệp hội phải chủ động tìm hiểu và phân tích những cơ hội, khó khăn, thách thức đối với các doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải thông qua hiệp hội truyền đạt những thắc mắc của mình lên Bộ Công thương. Về phía bộ, chúng tôi cũng đang xem xét việc xây dựng cổng thông tin phổ biến những nội dung của hiệp định và giải đáp những thắc mắc của doanh nghiệp”, bà Phạm Quỳnh Mai cho biết./.

Theo Lệ Hằng

VOV

Tiền nợ thuế của Hà Nội lớn hơn tổng nợ thuế của 47 địa phương

Theo thống kê của Tổng cục Thuế, tính tới 31/8, tổng tiền thuế nợ từ 5 triệu đồng trở lên của doanh nghiệp tại 16 địa phương có số thu điều tiết về ngân sách Trung ương là hơn 45.800 tỷ đồng, 47 địa phương còn lại có số nợ là hơn 12.000 tỷ đồng.

Trong số các địa phương, Hà Nội có số nợ thuế lớn nhất cả nước với hơn 13.530 tỷ đồng. Đứng thứ 2 trong danh sách là TP. Hồ Chí Minh hơn 9.890 tỷ đồng.

Tiền nợ thuế của Hà Nội lớn hơn tổng nợ thuế của 47 địa phương - Ảnh 1.

Hà Nội có số nợ thuế lớn nhất cả nước (Ảnh minh hoạ: KT)

Ngoài ra, một loạt địa phương còn tổng nợ lớn như: Hải Phòng (trên 2.340 tỷ đồng), Vĩnh Phúc (hơn 1.601 tỷ đồng), Bình Dương (khoảng 1.153 tỷ đồng), Thái Bình (1.191 tỷ đồng),…

Lãnh đạo Tổng cục Thuế đề nghị cục trưởng các cục thuế giao trách nhiệm đôn đốc, cưỡng chế thu hồi nợ đọng thuế từng đồng chí lãnh đạo cục thuế, trưởng phòng, chi cục trưởng và từng cán bộ, công chức quản lý nợ thuế. Đồng thời, yêu cầu các đơn vị với khoản tiền thuế nợ từ 1-30 ngày, thực hiện gọi điện thoại, nhắn tin và gửi thư điện tử cho chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện theo pháp luật của người nộp thuế thông báo về số tiền thuế nợ.

Đối với khoản tiền thuế nợ từ ngày thứ 31 trở lên, ngành thuế lưu ý các địa phương ban hành thông báo tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp gửi đến người nộp thuế yêu cầu nộp tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước.

Cơ quan chức năng sẽ ban hành quyết định cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản của doanh nghiệp với khoản nợ thuế từ 91-120 ngày.

Đối với khoản tiền thuế nợ từ 121 ngày trở lên và đã ban hành quyết định cưỡng chế trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản nhưng quyết định cưỡng chế đã hết hiệu lực (quá 30 ngày), doanh nghiệp chưa nộp hoặc nộp chưa đủ số tiền thuế nợ thì thực hiện ban hành quyết định cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng./.

Theo PV

VOV

6 yếu tố có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2019

Theo nhận định của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế (NCIF), kinh tế trong nước năm 2019 có thể giữ được đà tăng trưởng của năm 2018 nhờ vào việc hưởng lợi từ các động lực.

Cụ thể, NCIF đánh giá tăng trưởng kinh tế toàn cầu khả quan. Diễn biến kinh tế thế giới có nhiều yếu tố là hậu thuẫn tích cực cho tăng trưởng của Việt Nam  như triển vọng tăng trưởng khả quan của kinh tế thế giới trong đó đặc biệt từ triển vọng kinh tế Mỹ.

Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế vẫn đang được đẩy nhanh. Đơn cử như Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa ASEAN và Hồng Kông dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/1/2019 là bước tiến quan trọng để ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng mở rộng thâm nhập vào thị trường Hồng Kông hay khả năng Hiệp định CPTPP có hiệu lực vào đầu 2019 là rất cao sau khi dự kiến đạt được sự phê chuẩn của 6 thành viên vào cuối 2018…

Môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, đặc biệt là cải cách mạnh mẽ điều kiện kinh doanh, sự thay đổi về thủ tục hành chính

Tăng trưởng kinh tế thuận lợi là điều kiện tạo thêm nhiều việc làm và giảm số người thất nghiệp chung cũng như tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị và có cơ sở hoàn thành mục tiêu tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4% vào năm 2020.

Tuy nhiên, NCIF cũng cho rằng nền kinh tế đang tồn tại 6 vấn đề tiêu cực, có thể ảnh hưởng tới khả năng tăng trưởng trong năm tới.

Thứ nhất, Việt Nam thiếu hụt các động lực tăng trưởng chính trong khi áp lực lạm phát tăng lên hạn chế dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng.

Thứ hai, nền kinh tế đang đối diện với xu hướng bảo hộ thương mại và hàng rào phi thuế quan ngày càng gia tăng.

Nhiều quốc gia, nhằm đảm bảo sự tăng trưởng của thị trường nội địa, đang ngày càng có xu hướng bảo hộ thương mại và áp đặt nhiều hàng rào phi thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam, gây ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam nói riêng và hoạt động sản xuất nói chung.

Thứ ba, NCIF cho rằng giá các tài sản tài chính thế giới đã tăng quá cao (cao hơn cả thời điểm xảy ra khủng hoảng tài chính 2008-2010), gây quan ngại về tình trạng “bong bóng tài chính” đang âm thầm diễn ra, đặt tình hình tài chính toàn cầu trước nguy cơ một cuộc khủng hoảng tài chính tiếp theo, đặc biệt là những vấn đề tài chính đang tích lũy trong nội tại nền kinh tế Trung Quốc (khi mà giá bất động sản đang được đẩy lên cao, trong khi tình trạng dư thừa rất rõ ràng,…).

Thứ tư là diễn biến thị trường ngoại hối khó lường. Chiến tranh thương mại giữa các nền kinh tế chủ chốt (Mỹ – Trung Quốc – EU) diễn ra căng thẳng hơn, các quốc gia có xu hướng tiếp tục phá giá đồng nội tệ của mình so với các đồng tiền mạnh (USD, EUR,…) để hạn chế thiệt hại, đặc biệt là Trung Quốc – có thể nước này sẽ mạnh tay phá giá đồng nội tệ để tạo cạnh tranh thương mại.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam rơi vào trạng thái “rủi ro lưỡng cực”. Nghĩa là hoặc Việt Nam có thể bị cuốn vào vòng xoáy “phá giá nội tệ để cạnh tranh”, và theo đó, diễn biến tỷ giá VND/USD sẽ trở nên khó lường hơn. 

Hoặc nếu Chính phủ Việt Nam cố gắng hạn chế tỷ giá biến động mạnh, nghĩa là cố gắng neo giữ đồng nội tệ ở mức độ nhất định so với đồng USD, thì khi USD tăng giá mạnh, VND cũng sẽ tăng giá so với các đồng tiền khác, điều này ảnh hưởng rất lớn tới xuất khẩu và sau đó là tăng trưởng kinh tế.

Cùng với đó, việc FED đẩy nhanh lộ trình nâng lãi suất trước đó, đồng thời dự kiến tăng lãi suất 3 lần trong năm 2019, nhập siêu và dòng vốn gián tiếp vẫn là những ẩn số cho thị trường ngoại hối những tháng cuối năm 2018.

Thứ năm là việc môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh của Việt Nam mặc dù đã được cải thiện nhưng hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài khiến các nhà đầu tư vẫn dè dặt về môi trường hoạt động lâu dài, sức hấp dẫn của môi trường đầu tư giảm sút.

Thứ sáu là chất lượng lao động chưa được cải thiện cùng năng lực khoa học – công nghệ chưa cao có thể ảnh hưởng tới lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong trường quốc tế và khả năng thu hút dòng vốn tới Việt Nam.